Michael Do

 Quê Hương

 

 
 
 
 
 

Trang Chính

Truyện Dịch

Viết Về Lính

Quê Hương

Chuyện Tù

Nhận Diện Kẻ Thù

Chuyện Người

Các Bản Tin

Nhận Xét

Hội Luận

Tác Phẩm

Tiểu Sử

Gia Đ́nh

Trang Anh Ngữ

 

 

 

Ḍng Sông Quê Ngoại

 Đỗ Văn Phúc

Khi c̣n tuổi thanh xuân, tôi như cánh chim giang hồ; mơ đến những phương trời xa; t́m vui trong những ngày tháng rong chơi, nhởn nhơ như cánh bướm t́m hoa bốn muà tươi thắm ở những khu vườn lạ. Tôi rời bỏ quê, để lại người mẹ hiền cô đơn ra vào căn nhà bé nhỏ nơi thị trấn nhỏ miền Trung xa xôi lên đường xuôi Nam. Vài năm trú chân thành phố biển Nha Trang cát trắng êm đềm. Nhiều năm tận hưởng ánh đèn màu, vũ nhạc Sài G̣n hoa lệ. Rồi cánh bướm giang hồ ghé chân, thuyền t́nh ghé bến thả neo bên hồ Xuân Hương giữa mùa xuân ấm áp hoa đào rộ nở của Đà Lạt mộng mơ. Ít khi trong khoảng thời gian này tôi nhớ về quê nhà. Dù rằng nơi miền đất địa đầu này, tôi đă nếm qua hương vị ngọt ngào của một mối t́nh dầu học sinh mà theo nhà thơ Xuân Diệu th́: “ngàn năm hồ dễ mấy ai quên,” và cả một thời thơ ấu chan chứa bao kỷ niệm. 

Nhưng đến sau 1972, khi Quảng Trị chỉ c̣n tên và một đống gạch vụn sau chiến trận muà hè, nỗi thương tiếc trở về từng đêm trong giấc mơ của kẻ tha hương. Cả cuốn phim dĩ văng bắt dầu từ những h́nh ảnh chắp vá, dần dần được sắp xếp theo thứ tự thời gian. Người và việc rơ nét dần trong từng trang chan chứa bao nỗi buồn niềm vui và tưởng chừng như vừa mới xảy ra quanh đây, c̣n thắm đượm màu thời gian.

Tại sao người ta thường nhắc nhở nhiều về quê Mẹ? Trẻ con quê tôi lúc nô đuà thường hát đố: “anh về quê ngoại, tôi về quê nội, bên mô hơn?”  Ôi! thật khó kiếm được một câu trả lời cho  vừa ư. Bởi v́ bên mô cũng tràn ắp t́nh cảm yêu thương dào dạt mà đă nuôi nấng ta nên người. Khí cha huyết mẹ; bên sinh, bên dưỡng. Bên nào cũng công ơn trời biển, cũng những hy sinh vô vàn, bao la t́nh nghĩa, nghiêm khắc hoặc triù mến nhẹ nhàng; mỗi bên đă tạo nên một phần quan trọng trong sự trưởng thành của đời con. Nhưng có lẽ chân thật mà nói, th́ khi c̣n thơ dại, người ta có khuynh hướng thiên về quê ngoại hơn. V́ khi nói đến quê ngoại, là thường nhắc nhở ch́u chuộng, khoan thứ và mọi t́nh cảm ngot ngào mà ông bà, d́ cậu thường dành cho đưá cháu ngoại đươc coi như khách hơn là cháu nội, người chủ tương lai của gia đ́nh.

Quê ngoại, nơi đó tôi từng nhởn nhơ vui đùa cùng đám trẻ suốt mùa hè êm ả trong những năm ấu thơ của tuổi học tṛ. Những kỷ niệm về quê ngoại và tấm ḷng bao dung, tŕu mến của Bà cùng các d́, cậu là mối dây thiêng liêng gắn bó t́nh cảm của tôi với mảnh đất hiền hoà nằm bên khúc sông vừa nhập từ nguồn Hăn Giang và Hiếu Giang, chỗ ḍng nước lợ bắt đầu tuôn chảy ra biển Đông.

Làng An Cư êm đềm cũng như người dân làng An Cư hiền lành và khiêm tốn. Con đường tỉnh lộ chạy từ thị xă Quảng trị ngày đó rải bằng đá dăm, chỉ rộng đủ cho hai làn xe. Làng xă hai bên đường ẩn hiện sau những lũy tre xanh, thấp thoáng vươn lên những hàng cau thanh mảnh. Có những tên làng rất nên thơ : Bích La Đông, Bích La Tây; lại có tên làng rất đơn sơ, mộc mạc: Đầu Kênh, Dương Lộc, Bồ Bản... Làng An cư có ngót trăm nóc gia. Khu dinh cơ lớn nhất là của cố Quận công Nguyễn Văn Tường, gồm những dăy nhà ngang dọc và khu vườn rậm rạp bao quanh bởi bức tường thành phủ đầy rêu xanh. Đó là nơi tôi cùng đám anh em thích thú ṭ ṃ thám hiểm từng góc vườn, từng đống vôi gạch vụn; t́m bắt các chú ểnh ương, ṃ tổ chim; hay leo lên cành ổi chơi tṛ tarzan đu dây, đuổi bắt với bọn mọi rừng xanh tràn ắp trong trí tưởng tượng của tuổi thơ. Ông ngoại tôi cũng là hậu duệ của cụ Quận Công. Đời cố tuy đỗ Cử nhân nhưng không ra làm quan, ở lại quê làng, lo cày cấy ruộng vườn. Đến đời ngoại thi đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thân, triều vua Duy Tân lúc ngoại vừa hai chín tuổi. Mẹ tôi kể rằng lúc Ngoại được Vua ban áo măo vinh quy. Về tŕnh diện quan Tuần vũ Quảng Trị xong, người cởi áo triều, khoác vào bộ y phục nông dân và theo đường tắt đi bộ về làng v́ sợ gia đ́nh nghèo không đủ tiền để làm tiệc khao cho làng tổng. Trong lúc đó, cả tổng đă kéo nhau lên trước dinh cơ quan Tuần Vũ, mang theo vơng lọng chờ rước quan tân khoa. Chờ đến quá trưa, họ đánh bạo vào dinh hỏi thăm. Khi vỡ lẽ quan tân khoa đă bỏ về từ lâu; họ bèn xếp vơng lọng, lếch thếch kéo về làng bắt lỗi gia đ́nh.  Ngoại làm quan lớn cho đến đời vua Khải Định, nhưng vẫn sống cảnh thanh bần. Những tấm h́nh của Ngoại trong chiếc áo the và tấm bài ngà cũng chứng minh sự khiêm cung thanh bạch của người. Mẹ tôi là con gái đầu của mười một anh chị em. Bà được gả về làm dâu nhà quan Thị lang bên làng Đầu Kênh giàu có nhưng không đươc toàn vẹn hạnh phúc v́ quan niệm phong kiến thời bấy giờ. Lại rất ít khi  đươc gần gủi chồng. Bà sống âm thầm, lao nhọc và buồn tủi cho đến khi cha tôi bị Việt Minh bắt cóc năm 1948, mới đem con thoát ly nhà chồng tự lập thân. Có lẽ điều này làm cho tôi thân thương hơn đối với bên ngoại.

Mỗi năm cứ đến hè, mẹ cho tôi về quê ngoại. Chiếc ca nô rời bến Đông Hà thường vào lúc xế chiều, để đưa khách trở về quê làng sau buổi chợ tan. Thuyền chạy êm trên ḍng sông xanh biếc. Những con đ̣ dọc khua mái chèo nhẹ nhàng, thanh thản với những tiếng râm ran tṛ chuyện của bạn hàng hoà trong tiếng cười ḍn của những cô gái xuân. Thửa đó yên b́nh quá. Chưa có tiếng súng cắc bụp quấy phá, chưa có ḿn bẫy khủng bố của du kích. Chưa ai nghe đến hai chữ Việt Cộng. Cuộc sống thanh b́nh hoan lạc trải dài trên khắp các thôn trang. Ca nô cập bến. Đó là g̣ đất cao bên bờ sông. Dân làng gọi là đống lớn để phân biệt với đống nhỏ cách đó chừng vài mươi thước. Những đêm trăng, bọn trẻ kéo nhau ra đây vui đùa. Ngâm ḿnh bơi lội tung tăng trong gịng nuớc ấm rồi quây quần nhóm lửa lên, ca hát, đố vui, kể chuyện xưa và chờ mua những tôm cá tươi ngon từ các thuyền chài đi qua rồi nướng lên trên bếp lửa và tận hưởng hương vị ngọt ngào đồng quê. Cách một con đ̣ ngang, bên kia sông là làng Dương Xuân. Thỉnh thoảng có những phiên chợ nhỏ gồm chục gian hàng. Trên những chiếc sạp tre, các bà bày bán lẻ đủ thứ hương hoa vàng mă; kẹo bánh rẻ tiền, hoặc giấy bút cho học tṛ các trường làng tôi cận. Bọn trẻ con thường bơi qua lại hai bên. Sông tuy rộng, nhưng hai bờ đều cạn, ra đến một phần tư sông mới ngập ngang cổ. Do đó, không cần phải là tay bơi giỏi mới đủ sức bơi qua bên kia. Đáy sông đấy cát và sỏi nhỏ. Thú nhất là lặn sâu xuống đáy sông, nh́n ngược lên để thấy ánh mặt trời lấp lánh qua làn nước xanh trong; thấy rơ những đàn cá nhỏ tung tăng đuổi nhau quanh những đám rêu dài.

Nhà có mấy cây dừa thấp, cho những chùm trái ngọt lịm. Khi bà ngoại c̣n sống, có dịp các cháu về, bà thường nhờ người mua những con cá ngừ về kho xấp với thơm Hà nội. Nước cá ngừ kho với ớt tỏi giă nhỏ ăn với bún Ṣng là thứ đặc biệt quê tôi không đâu ngon bằng. Ngoại cũng sống cô đơn như bà nội, tuy cả hai đều đông con cái. V́ các d́ đi lấy chồng xa; các cậu, hai người th́ đi theo kháng chiến biền biệt từ những năm 40, hai người là sĩ quan quân đội Cộng Hoà trú đóng tận trong Nam. Cậu út được quân đội gửi sang Hoa Kỳ du học năm 1958 và ở lại luôn không về, mà cũng chẳng thư từ ǵ. Cậu em kế mẹ tôi qua đời trong một tai nạn xe hơi khi đang làm giảng viên trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt. Trong làng, bà con theo phía bên kia cũng nhiều. Có anh Ủy làm tỉnh ủy viên đảng Cộng sản, năm 1966 bị quân ta bắt được trên đường lén về hoạt động. Anh bị trói ké trên chiếc xe jeep cảnh sát chạy bêu khắp phố phường. Năm đó tôi vừa vào đời, làm việc cho cơ quan chống khủng bố của Hoa Kỳ tại tỉnh lỵ. Tuy biết rằng Cộng sản đang thi hành chính sách khủng bố đồng bào miền Nam để gây bất ổn nhằm làm suy yếu chính quyền quốc gia, nhưng tôi chưa tưởng tượng được hết sự man rợ, hung bạo của những người đối phương. Do đó tôi nh́n người anh bà con đứng ủ rũ trên xe mà ḷng dâng niềm trắc ẩn dạt dào. Con người hiền lành đáng thương là thế. Cũng như hai người cậu ruột mà tôi biết chắc chắn rất hiền lành và nhân đức. Họ đă ra đi trong những năm mà tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc giục giả thanh niên yêu nước tham gia vào cuộc kháng chiến chống lại bọn thực dân bạo tàn đang dày xéo quê hương. Sau 1954, họ đă kẹt lại hay chọn lựa với sự lầm lẫn mù quáng để theo phiá bên kia, đối đầu lại với cuộc sống an b́nh, no ấm của đồng bào miền Nam. 

Đối với tôi, khi lớn lên đă có sự lựa chọn dễ dàng hơn ai hết. Cộng sản c̣n nợ tôi một mối thù lớn. Có ǵ đau tủi hơn thân phận một người con mà từ sơ sinh đă không thấy được cha ḿnh? Đến khi cha đươc thả về từ trại tù Lư Bá Sơ, chúng cũng không để cho yên thân trở về với vợ con sau bảy năm trời đày đoạ. Cộng sản đă hạ sát và vùi thây cha đâu đó gần thành phố Vinh, bên kia ḍng sông chia cắt quê hương. Mẹ tôi chỉ c̣n giữ một tấm h́nh độc nhất cả gia đ́nh khi tôi mới lên một, c̣n chưa đứng vững trên hai chân nhỏ bé. Cha tôi cao, hơi gầy, đứng bên mẹ thấp chỉ đến vai người. Tôi giữ h́nh ảnh cha và mối thù mang theo canh cánh bên ḷng. Tháng Tám năm 54, cái chắn giữa cầu Hiền Lương hạ xuống vĩnh viễn, ranh giới hai miền chính thức đóng lại sau hơn một tháng cho người ta qua lại t́m nhau. Biết là không c̣n chút hy vọng ǵ về người chồng bạc phước, mẹ tôi ôm con vào ḷng, để cho giọt lệ trào tuôn cho vơi niềm đau đớn. “Con lớn lên phải làm ǵ để trả thù cha?”

Ngoại qua đời vào năm cuối thập niên 50. Từ đó, tôi ít có dịp về quê ngoại nữa. Căn nhà không c̣n vui như xưa, cây cối ngoài vườn không ai chăm bón dần dần trở thành hoang phế. Người ta bắt đầu nói tới chiến tranh. Thanh niên bắt đầu lên đường ra chiến trận. Tuy nhiên, quê ngoại vẫn c̣n b́nh yên, v́ xa miền núi rừng là nơi xuất phát du kích. Xe đ̣ vẫn chạy ngày hai chuyến từ tỉnh lỵ về cửa biển mà không e sợ bom ḿn như trên con đường quốc lộ 1.

Lần này th́ tôi đi xa, thật xa, và cũng thật lâu nữa. Dễ có hai mươi lăm năm chứ ít! Để rồi trở lại thăm một lần trước khi làm chuyến viễn hành qua bên nửa ṿng kia của trái đất. Dấu vết cuộc chiến, dù sau mười lăm năm ngày đất nước hoà b́nh như vẫn c̣n nguyên vẹn. Rải rác trên cánh đồng là những hố bom, những mảnh vỡ nát của chiến cụ. Nhiều nơi c̣n nguyên vẹn những lô cốt với những câu khẩu hiệu chống cộng mờ mờ sau lớp vôi trắng do  những người cán binh phủ vội lên. Quê nghèo và ảm đạm quá. Chỉ thấy những h́nh ảnh lam lũ, câm lặng của một cuộc sống thê lương. Những người đi kháng chiến từ miền Bắc trở về đă chiếm hết những căn nhà gạch khang trang và những khoảnh ruộng tốt. Người làng một phần vong mạng v́ chiến tranh, một phần tan tác khắp bốn phương. Căn nhà của Ngoại giờ chỉ c̣n trơ nền gạch đỏ. Không một dấu tích ǵ để tôi có thể  t́m lại chút h́nh ảnh kỷ niệm xưa. Tôi ghé qua dinh cơ cũ của cậu Phủ Tương. Chiếc cổng đă đổ nát, phải vạch cỏ và cây leo dại mới t́m được một lối đi cũ dẫn vào sân gạch. Hai dăy nhà đă sập hơn nửa, mái xệ xuống gấn sát đất. Nơi pḥng khách ngày xưa đấy ánh sáng chan hoà và tràn ngập tiếng cười ḍn dă tươi vui của các chị em, nay trở thành chái bếp cho một gia đ́nh người thân tạm trú. Cậu có nhiều con gái. Hai chị, một chị lấy chồng là Trung tướng Hoàng Xuân Lăm, Tư Lệnh Quân đoàn 1, một chị khác là vợ Đại tá Trần Văn Trọng, Cục trưởng Quân cụ. Ngày xưa, gần như mỗi tháng một lần, trực thăng từ Bộ Tư lịnh Quân đoàn Một đóng ở Đà Nẵng bay đến tận đầu làng và đổ cách sân nhà chừng vài chục mét để cho bà Tướng về thăm nhà. Ngày đó bọn trẻ như tôi thường kéo lại nhà cậu để mong có chút quà thường là kẹo bánh đặc sản xứ Quảng Nam. Các chị rất hào phóng. Sau một vài chến, thế nào cũng dúi cho đàn em chút tiền c̣m dằn túi. Tôi đi lính xa nhà nên không hưởng được ân sủng của ông Tư lịnh quân đoàn. Tôi chết hụt nhiều lần nơi chiến trường miền Đông Nam phần, nhưng nhất định không nghe lời mẹ xin về miền Trung để có thể nương thân nơi một văn pḥng nào đó.

Chỗ cuối làng, nơi dẫn ra khu mộ gia đ́nh, ngôi chùa cũng hoang phế trừ chiếc sân rộng mà có lẽ nay được dùng làm nơi tụ họp mít tinh của chế độ mới. Tôi lững thững thả bộ ra bờ sông. Cũng cồn đống nhỏ và cồn đống lớn nằm kề bên nhau như h́nh ảnh mẹ và con. Vài trẻ em đang chơi quanh đó. Thấy người lạ, chúng ngừng chơi và nép vào bên nhau, trố mắt nh́n.  Tôi cố t́m lại h́nh ảnh ḿnh hơn ba mươi năm về trước. Con sông vẫn trong xanh và mát mẻ. Làn nước vổ về nhẹ nhàng vào da thịt chàng. Từ xa, nghe vọng lại tiếng con thuyền máy chở khách. Cũng vẫn những người dân nghèo chen chúc chuyện tṛ trên khoang thuyền. Những tấm áo đen đă bạc màu nhiều miếng vá; những quang gánh la liệt trên mui con thuyền. Nhưng sao không khí vẫn yên ắng quá. Cũng cảnh thanh b́nh, nhưng lại là thứ thanh b́nh trong tịch mịch thê lương của những khắc khoải, đọa đày trong kiếp sống mới.

Biết lần ra đi sắp tới sẽ là vĩnh viễn, v́ nếu có mong ngày nào trở lại th́ cũng phải chờ một lần đổi đời khác trên quê hương. Tôi thấy ḷng ḿnh chùng lại. Tôi uống no nê một bụng nước sông, xong lên bờ mở túi, lấy chiếc máy h́nh ra ghi vội vài cảnh làng quê trước khi lên đường.

Nắng đă lên cao. Con đường đất trước mặt bụi mù khi có chuyến xe qua. Tôi thong thả vừa đạp xe vừa cố thu cho hết h́nh ảnh miền quê dấu yêu mà từ nay chỉ c̣n trong hoài tưởng mà thôi.