|
Michael Do Các Bản Tin |
||||
|
|
||||
|
|
Lại Chuyện Chữ Nghĩa
Sắp đến ngày mừng Chúa giáng sinh! Trong chiến tranh, những ngày lễ trọng thế này, th́ quân ta thường tôn trọng lệnh hưu chiến để đồng bào có cơ hội cử hành thánh lễ và an tâm hưởng thụ những giờ phút thiêng liêng đầm ấm. Vậy chúng tôi cũng theo lệ đó mà tránh bớt những bài xă luận chính trị với lời lẽ “chém đinh chắt sắt” để nói về những đề tài nhẹ nhàng hơn. Tỉ dụ như vấn đề “ngôn từ Việt Cộng” mà lâu nay cũng có nhiều vị từng lên tiếng báo động rằng đă xâm nhập quá sâu trong sinh hoạt văn hóa hải ngoại. Thật ra th́ không có ngôn từ nào là của Việt Cộng cả. Ngôn từ là di sản văn hoá chúng ta thụ hưởng từ tiền nhân từ hàng ngàn năm qua, sau khi đă gạn lọc, thêm thắt qua tiến tŕnh sinh hoạt, giao tiếp với thế giới bên ngoài. Chỉ có vấn đề xử dụng ngôn từ một cách trong sáng, đúng đắn, hợp lư hay không mà thôi.
Ngôn là lời nói, tiếng nói, là phương tiện giao tiếp, truyền thông đầu tiên trong đời sống của con người, cũng như của xă hội loài người vào thời hoang sơ. Thời sơ khai, người chỉ biết đến h́nh ảnh cụ thể quanh ḿnh (núi, sông, hang động, thú vật…), những động tác (ăn, nói, đi, đứng, làm…), từ từ tiến lên hiện tượng (mưa, băo, ), cảm xúc (vui, buốn, giận…), và cao hơn là ư thức về triết học, chính trị, khoa học kỹ thuật. Thoạt đầu người ta dùng lời nói (Ngôn) để diễn đạt, rồi tiến lên phát minh ra chữ viết (Từ) như là những biểu tượng để sự truyền đạt có thể đi xa hơn về không gian và thời gian. Sinh ngữ là ngôn ngữ sống vẫn c̣n được dùng, khác với tử ngữ là ngôn ngữ đă không c̣n ai dùng tới. Ngôn ngữ Việt Nam là một sinh ngữ có từ nhiều nguồn: tiếng Việt nguyên gốc (nước nhà, khoảng cách, người lính…), tiếng Trung hoa đọc theo âm Việt (quốc gia, cự ly, quân nhân…), tiếng Tây phương được Việt hoá (bom, cà phê, mô tô, vi la…); các thuật ngữ quân sự, kỹ thuật mới được đặt chữ Việt Nam tương ứng nhưng chưa phổ cập (phần mềm (software), phần cứng (hardware), nét (internet)…). Sau khi những “ngôn” và “từ” này được xử dụng quen thuộc và được đại đa số chấp nhận, nó trở thành tiếng Việt chính thức. và người ta soạn ra Văn phạm là thứ luật để hướng dẫn mọi người biết cách dùng cho đúng và hợp lư để khi nói hay viết ra, ai ai cũng phải hiểu môt cách đồng nhất. Văn phạm được dạy cho học sinh từ những năm tiểu học cho đến đại học. Tuy vậy, Việt Nam chưa có một hàn lâm viện về ngôn ngữ, nên vẫn c̣n nhiều trở ngại khi muốn cập nhật, điều chỉnh, hay xác định sự chính xác của cách dùng chữ. Ngôn, Từ, Văn phạm là do con người sáng tạo, nên cũng có thể do con người thay đổi do sự thay đổi môi trường sống và sự tiến hoá chung. Sự đúng sai trong cách dùng chỉ có tính cách tương đối và chủ quan. Ví dụ: trước 1975, mười bảy triệu người miền Nam dùng hai chữ “đơn giản” nghe quen thuộc; th́ mười chín triệu người miền Bắc lại dùng chữ “giản đơn” và họ cũng cho rằng xuôi tai. Gạt qua một bên t́nh cảm chính trị mà có thể làm sự đánh giá của chúng ta sai lệch đi, th́ ai? cơ quan nào? là người có thẩm quyền phân xử chữ nào đúng, chữ nào sai? Như thế, bất cứ những lời nào, chữ nào nói ra từ miệng người Việt đều là Ngôn, Từ chung của Việt Nam. Việt Cộng không sáng chế thêm chữ mà chỉ xử dụng sai chữ do sự ngu dốt và cố chấp của họ. Trong khi Phạm Văn Đồng (cố thủ tướng VC) viết nhiều bài kêu gọi làm trong sáng tiếng Việt, th́ Hồ Chí Minh lại xử dụng lố bịch các chữ “Kách Mệnh”, “giải fóng”, “nhân zân”. Trong khi Cộng sản có khuynh hướng Việt hoá các chữ Hán Việt (Lính thủy đánh bộ, tàu sân bay, xe bọc thép…), th́ cũng chính họ lại có khuynh hướng sính dùng chữ Hán Việt trong khi các chữ Việt thuần tuư nghe êm tai hơn.
Chúng tôi xin đưa ra vài th́ dụ trong hàng trăm, hàng ngàn cách xử dụng sai trái của Việt Cộng. Chắc quư vị c̣n nhớ các bảng hiệu “xưởng đẻ”, “nhà đái nam”, “cửa hàng thịt Thanh Niên” trong những năm sau 1975? Nghe mà tởm lợm, dựng tóc gáy. Các chữ Hán Việt như “cự li” (khoảng cách = distance), “cách ly” (cô lập = isolate), “tiếp cận” (đến gần = approach) ngày trước chúng ta vẫn dùng; nhưng tùy theo từng trường hợp. Cự li dùng trong quân sự, tiếp cận dùng trong toán học. Nhưng khi nói về những chuyện thông thường, người ta nói: “Khoảng cách giữa các xe…”; “anh B. bị bạn bè cô lập….”; “Việt Nam tiếp xúc với nền văn minh Tây phương”;"anh A. đến gần cô B.” Nghe nhẹ nhàng dễ hiểu hơn nhiều.
Khi nói đến “chùm” (cluster, bunch), chúng ta h́nh dung đến chùm nho, chùm cau, chùm lông (hay túm lông). Nhưng người ta nói một tập thơ, một xấp ảnh, một hợp ca (tam ca, tứ ca, hay đồng ca). Thật là khó chấp nhận khi nghe hay đọc các chữ chùm thơ, chùm ảnh, tốp ca Trong các bản tin do báo hải ngoại trích từ báo của Việt Cộng chúng tôi đă đọc: - “Cái bánh chưng vĩ đại (được vào sách Kỷ Lục) này do bà Nguyễn thị X. ‘thể hiện’”. Đúng ra, phải dùng chữ “thưc hiện” hay đơn giản hơn dùng chữ “làm”. Thể hiện có nghĩa là biểu lộ (express). Người ta nói “thể hiện sự ưu ái, thể hiện ḷng ái quốc… Chính tự điển của VC cũng định nghĩa đúng thế. - “Ca sĩ X ăn mặc ‘ấn tượng’”. Ấn tượng là danh từ (impression). Phải nói cách ăn mặc của ca sĩ X. gây một ấn tượng tốt. - Điểm nhấn: « Trong cách ăn mặc, chiếc cà vạt là ‘ điểm nhấn’ ». Ư tác giả muốn nói đến điểm nổi bật nhất (focus). - Bức xúc. Tiếng Việt có các chữ « bứt rứt », « ray rứt » (worry). Chính trong từ điển VC cũng không có chữ « bức xúc » này. Nhưng nhiều nhà hoạt động của người Việt hải ngoại vẫn cứ dùng chữ « bức xúc » một cách ngô nghê. - Thống nhất ư kiến. Một bác sĩ lớn tuổi, sống hơn nửa đời ḿnh ở miền Nam và có nhiều bài viết trên rất nhiều báo hải ngoại đă viết : « sau khi hội ư, các bác sĩ đă thống nhất ư kiến... » . Tại sao không viết « Sau khi bàn bạc, các bác sĩ đă cùng đồng ư... ». V́ lư do chính trị, đối kháng Quốc Cộng, chúng ta có khuynh hướng dị ứng với những chữ do VC dùng dù rằng đó là những chữ rất đúng và có ư nghĩa. Ví dụ các chữ : Giải phóng, hiệp đồng... Chúng ta nên giành lại những chữ đầy chính nghĩa về tay chúng ta.
Sự dùng sai, vay mượn chữ do VC xử dụng bừa băi của những người viết, của báo chí hải ngoại do thiếu ư thức hay nhân lực đă vô t́nh đi sai chức năng cao quư « hướng dẫn quần chúng » của báo chí truyền thông. Ngày trước, báo giới Việt Nam Cộng Hoà rất thận trọng. Họ làm báo như một nghề chính thức. V́ thế, các báo Việt Nam có cả một toà soạn, ban trị sự, ban biên tập, người sửa bài. Họ duyệt bài tương đối kỹ, vừa về quan điểm vừa về văn phạm, lỗi hỏi ngă. Và nhất là họ không làm việc cắt dán, cóp py bài vở từ báo khác. Ngày nay, báo chí tại hải ngoại nở rộ. Có báo chỉ cần một người, một máy điện toán là đủ tạo nên một toà soạn, ban biên tập. Bài vở th́ phần lớn cắt và dán từ các trang web mà không hề đọc lại thật kỹ. Chính v́ sự đói bài vở này, mà những bài viết từ Việt Nam Cộng Sản có cơ hội xâm nhập ồ ạt vào sinh hoạt truyền thông hải ngoại, làm một công cụ tuyên truyền không công cho Việt Cộng. Nếu chịu khó làm công việc « vạch lá t́m sâu » th́ chúng ta sẽ thấy đă có nhiều cây viết hải ngoại cũng có ít nhiều lần, xài chữ sai do từ phiá VC .
Tôi rất tiếc đă không có th́ giờ để nêu ra nhiều trường hợp mà người
viết hải ngoại thường vấp phải trong bài viết. Vả lại, đây cũng là
điều tế nhị trong nghề. Dân viết văn không nên phê b́nh nhau. Nhưng
đọc măi những sai sót cũng đâm ra bứt rứt. Nếu khi v́ mục dích tuyên truyền mà đối tượng là cán binh VC hay người dân trong nước, chúng ta có thể phải xử dụng ngôn từ thường dùng của họ để họ hiểu và dần dà, t́m cách giáo dục họ về ngôn từ chính xác của chúng ta. Đó là bài học căn bản về xâm nhập văn hoá, cũng như khi chiến đấu du kích, chúng ta phải cải trang như cán binh VC vậy..
Dù sao, những người có lập trường rơ rệt, có ư thức cao, phải luôn luôn cẩn trọng, chẳng bao giờ để bị ảnh hưởng bởi thứ văn hoá be bét của Việt Cộng. Và báo giới lại càng cẩn trọng hơn.
|
|||
|
|
||||