|
Michael Do Chuyện Trong Tù
|
||||
|
|
||||
|
|
Cuối Tầng Địa Ngục
Đỗ Văn Phúc
Chương 4 Trại Tù A-20, Xuân Phước
Trại A-20 được thế giới biết đến nhiều như một trại giam man rợ nhất. Ngay cả trong danh sách những tù nhân mà các chính phủ, hội đoàn đă và đang tranh đấu với Cộng Sản Việt Nam để được trả tự do, trại A-20 vẫn chiếm hàng ưu tiên một. Trại A-20 từng giam giữ những chiến sĩ Đoàn Viết Hoạt, Phạm Trần Anh[1], các vị thượng tọa, đại đức, linh mục tranh đấu cho nhân quyền như Thích Thiện Minh, Nguyễn Văn Vàng, Nguyễn Quang Minh. Đây là một trại tù trừng giới ở miền Nam nơi giam giữ lâu dài những anh em quân cán chính Việt Nam Cộng Hoà được chúng liệt vào thành phần bất trị, các bạn chiến sĩ đấu tranh cho tự do dân chủ sau ngày 30-4, và đám tù h́nh sự mang án chung thân hoặc tử h́nh. Đă đến đây th́ chẳng ai nghĩ đến ngày về nữa. Ngay cả trong giấc ngủ, cũng chẳng mơ được chuyện thoát ra khỏi trại. Muốn biết thêm về trại A-20, quư vị có thể t́m đọc trong “Hồi Kư 26 Năm Lưu Đày” của Thương Tọa Thích Thiện Minh, Chủ Tịch Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam; “Trại Kiên Giam” của Nguyễn Chí Thiệp; “Đoạn Trường Bất Khuất” của Phạm Trần Anh; và nhiều bài của Vũ Ánh đăng trên nhật báo Người Việt hay nguyệt báo KBC Hải Ngoại.
Phần 1: Trong Ḷng Thung Lũng Kỳ Lộ
Chúng tôi từ các trại Z-30C, Z-30D (Hàm Tân) được chuyển ra đó cuối năm 1979. Từ ngă ba Chí Thạnh, khoảng 40 cây số phía Bắc thị xă Tuy Hoà, đoàn xe rời quốc lộ 1, rẽ về hướng tây, chạy trên một con lộ nhỏ đất đá lởm chởm xuyên qua những vùng đất khô cằn, những xóm nhà tiêu điều đói khổ. Đi sâu vào ḷng chảo vùng Kỳ lộ, nơi những dăy núi tiếp nối nhau bao lấy một thung lũng nhỏ hẹp mà ngày xưa là quận lỵ Đồng Xuân thuộc tỉnh Tuy Hoà. Trong những năm chiến tranh, nơi đây là địa bàn du kích rất mạnh của giặc. Có thể nói gần 100 phần trăm dân số ở đây là thân cộng. Điều này chẳng lạ, v́ trước đây, Xuân Phước là căn cứ địa kháng chiến chống Pháp và sau 1954, qua hàng chục năm trời xa cách ánh sáng văn minh tự do, người dân chỉ biết có Cộng Sản mà thôi. Họ gắn bó với phong trào Cộng Sản v́ gia đ́nh nào cũng có người thân trong hàng ngũ du kích. Xuân Phước, cũng như Củ Chi ở miền Nam là chỗ dựa vững chắc cho bọn du kích, nơi cung cấp chỗ ẩn náu, tài lực, nhân lực cho Cộng Sản. Việt Nam Cộng Hoà chỉ b́nh định được vùng này từ khi có sự tăng viện của quân đội Đại Hàn, với lối chiến tranh cứng rắn và đôi khi tàn khốc mà quân ta không nỡ thi hành đối với đồng bào ḿnh (dù rằng đồng bào này cũng cầm súng cho kẻ địch!). Thượng Toạ Thích Thiện Minh đă mô tả trại tù Xuân Phước qua các câu thơ sau:
Trại Xuân Phước miền Trung Phú Khánh Nhà giam tù nơi Chí Thạnh, Đồng Xuân Được nổi danh là thung lũng tử thần Tù giải đến khắp xa gần trong nước Trại trừng giới tập trung miền sơn cước Rừng núi đồi liên tiếp phủ vây quanh ….. Dăy Trường Sơn không bóng một căn nhà Đồng cỏ cháy xa cách ḍng suối biếc Nơi nắng lửa mưa dầm thảm thiết Thú rừng thiêng trông ghê xiết chốn hoang vu Trên mây giăng phủ rừng núi âm u Dưới thung lũng ba trại tù khá rộng[2] Hàng ngàn người khổ sai trong lao lư C̣n biệt giam đầy những bóng cùm gông
Thủ tục nhập trại đầu tiên là một màn kiểm soát tư trang rất chặt chẽ. Dù đă được các anh em đến trước t́m cách ra hiệu cho biết là chúng sẽ vét sạch những tài sản, thực phẩm, thuốc men.... chúng tôi vẫn không sao t́m cách giấu giếm được. Trong khi ngồi chờ đến phiên ḿnh, ai có thứ ǵ có thể ăn th́ cho vào miệng, nhai nuốt ngấu nghiến. Thứ không ăn ngay được như nước mắm, mỡ, ... th́ t́m cách đổ đi với tâm niệm “tao không ăn được, th́ cũng không để cho chúng mày dùng.” Sau màn khám xét, người tù khi đi ra khỏi căn pḥng chỉ c̣n trơ lại vài bộ áo quần tù rách rưới đóng thêm nhiều dấu “Cải Tạo” nham nhở trên lưng, trước ngực. Chúng thu tất cả, từ chiếc chén, đôi đũa, sách vở, giấy tờ, cái vơng, toàn bộ lương thực, thuốc men. Chúng nắn bóp rất kỹ từng ngăn túi, vạch cả mồm miệng, hậu môn ra t́m xem c̣n giấu giếm ǵ không. Sau đó, khi được đưa về pḥng giam, chúng mới dẫn lần lượt từng anh ra đống rác, cho nhặt những b́nh nhựa dẻo (được làm ra để dùng đựng nước mắm, tương chao) về cắt miệng để làm chén ăn cơm (xin lỗi quen miệng, nơi đây chỉ ăn khoai ḿ H-34 thôi). Tên trưởng trại là Thân Như Yên, trung tá công an, một người địa phương Phú Yên, gầy c̣m, khô khan, khát máu mà chúng tôi đặt hỗn danh là Cốm dẹp. Ngay từ phút đầu mới đến trại, y đă có mặt lúc nhận tù, gọi tên những người có tiếng là chống đối cứng đầu đứng dậy nh́n tận mặt thật lâu và lên giọng răn đe: - Liệu hồn, các anh sẽ bỏ xương nơi đây...
Trại có 5 phân trại, gọi tên theo vần A, B, C, D, và E. Phân trại A dành cho tù Việt Nam Thương Tín, là những người đă thoát khỏi Việt Nam những ngày cuối tháng tư 75 trên con tàu Việt Nam Thương Tín. Họ đă chạy tới đảo Guam thuộc Mỹ, và tranh đấu đ̣i trở về. Họ được bọn Việt Cộng tổ chức tiếp đón, ca ngợi rồi sau đó, đưa tuốt vào trại tù sau khi đă tước đoạt toàn bộ tiền bạc, tư trang. Những người tù VNTT tương đối ngoan ngoăn, nên được chúng cho nhiều đặc ân như đi lao động tự giác, th́ giờ ít g̣ bó, được thăm nuôi thường xuyên.... Phân trại B, cách đó chừng 5 cây số, giam tù h́nh sự có trọng án (thường từ 20 năm đến chung thân và tử h́nh). Bọn này thuộc loại giết người cướp của hiếp dâm. Tại đây có một số cán bộ chiến sĩ VNCH, lănh tụ tôn giáo biệt giam trong một cấm thành nằm lọt giữa trại với những bức tường cao. Phân trại C và D nằm xa hơn, nhốt tù h́nh sự. Anh em chúng tôi được đưa vào phân trại E, gồm 3 dăy nhà gạch kiên cố, có hàng rào kẽm gai cách biệt. Mỗi dăy dài khoảng 40 mét, chia làm hai căn cũng ngăn bằng hàng rào kẽm gai cao quá đầu. Mỗi căn có hai tầng giuờng đúc xi măng, chứa từ 100 đến 120 người, mỗi người chỉ được bề ngang chừng bốn tấc, không đủ trải tấm chiếu. Chúng tôi phải nằm nghiêng hoặc xoay ngược đầu với bạn để có thể tạm ngủ được qua đêm. Ba tháng đầu tiên trong trại, chúng tôi không ngừng bị khủng bố, không được phép viết thư cho gia đ́nh, tối nào cũng phải sinh hoạt học nội quy, kiểm điểm bản thân và phê b́nh nhau. Bọn cán bộ thay phiên đi qua đi lại suốt đêm bên ngoài pḥng giam để theo dơi xem có ai tụm năm tụm ba bàn tán ǵ không. Mạng lưới thi đua trật tự gồm những tên tù h́nh sự hiếp dâm giết người xuất hiện thường xuyên, giương đôi mắt cú vọ nh́n tận sinh hoạt từng anh em chúng tôi. Chế độ ăn uống nơi đây tồi tệ nhất so với các trại tù chúng tôi đă đi qua, có thể nói tồi tệ nhất trên thế gian. Mỗi bữa ăn chúng tôi được một vài lát khoai ḿ khô, trên đó cơng vài hạt cơm, với vài muỗng nước mắm thối. Gọi là nước mắm v́ không biết phải gọi là ǵ. Thực ra đó là loại nước nấu từ xác cá mắm hạng bét thải ra mà nông dân chỉ dùng để làm phân. Bọn chỉ huy trại mua về từng tấn cho vào các bồn chứa đầy rác rưởi, ḍi bọ; đậy sơ sài bằng tấm tôn mục gỉ. Mỗi bữa ăn, chúng múc ra vài gáo, cho vào chảo, đổ thêm muối hột, nấu lấy nước phát cho tù nhân. Của đáng tội, mục tiêu phấn đấu của đảng Cộng Sản trong Đại hội 4 là đến cuối năm 1980 mới có nước chấm cho nhân dân (không hiểu nước chấm là nước mắm, x́ dầu hay chỉ là thứ nước mằn mặn...). Xin mở ngoặc nói qua về khoai ḿ H-34. Trước đây nông dân ta thường ăn khoai ḿ g̣n, là loại có cọng lá màu tím, vỏ lụa cũng màu tím, ăn ngọt và bở. Khoai ḿ H-34 nhập cảng từ Ấn độ, c̣n gọi là ḿ công nghiệp, v́ nó dùng để lấy nhựa làm bao b́ nylon chứ không ăn được. Tinh bột khoai ḿ H-34 này được trại dùng làm bánh tráng. Tuy mỏng, nhưng nó cứng như mica; ngâm vào nuớc cả ngày chưa mềm ra được. Ḿ H-34 có hàm lượng chất độc Acid Cyanhydric rất cao, tích tụ nhiều nhất ở hai đầu củ ḿ, trong dây tim và ngoài lớp vỏ. Cây ḿ có cọng lá màu trắng, lớp vỏ lụa cũng màu trắng, và cho năng suất cao gấp 5, 6 lần ḿ g̣n lại dễ trồng trên bất cứ đất đai nào. Việt Cộng sử dụng ḿ H-34 cho chúng tôi ăn với hai mục đích: vừa dễ trồng vừa để đầu độc cho chết dần những người chúng không dám đem ra pháp trường v́ sợ dư luận quốc tế. Ăn ḿ H-34 lúc c̣n tươi (hàm lượng chất độc cao nhất) dẫn đến cái chết tức thời, hay ít ra cũng nôn ói đến tận mật xanh. Năm 1979, một đội gồm 30 anh em tù h́nh sự v́ đói, nhổ ḿ luộc ăn, đă có bốn anh chết tại chỗ, số c̣n lại nhờ cho uống nước đường đă thoát chết. Ăn ḿ H-34 hàng ngày, chúng tôi nhớ lại những câu chuyện vơ hiệp Kim Dung. Khi người ta cho vào cơ thể các chất độc một cách tiệm tiến, cơ thể sẽ dần tạo nên sức đề kháng hoá giải chất độc với dung lượng cao hơn. Nhưng hậu quả th́ vẫn kinh khủng: cơ thể bệu rệu, khuôn mặt phù thủng, méo mó. Bởi sống cùng nhau hàng năm trời, nh́n nhau hàng ngày, không ai thấy được sự đổi thay này. Măi cho đến khi được thả về, gia đ́nh, thân quyến mới phát giác ra khuôn mặt mập mạp một cách dị dạng của người tù. Thời gian này, v́ phân trại mới thành lập, họ bắt chúng tôi thi đua đào mương quanh trại, nói rằng “đào ao bác Hồ, nuôi cá để cải thiện đời sống trại viên.” Thực ra là đào hệ thống mương sâu quanh trại để pḥng ngừa anh em tù trốn trại. Cũng có những dự án đào ao hồ rất lớn bên ngoài để nuôi cá thực. Nhưng sau này số cá thu được là để cung cấp cho cán bộ mà thôi. Chúng tôi đă biết quá nhiều về sự lừa bịp của bọn cán bộ Việt cộng, nên bàn nhau làm việc theo phong cách riêng của ḿnh. Chúng tôi chia ra nhóm 3 người. Một người đào và hai người khiêng đất đi đổ. Làm suốt ngày chỉ đào vỏn vẹn mấy tấc khối đất. Chúng tôi thường gọi đùa hai người khiêng ky đất là hai ông từ đi tế đền. Quư vị cao niên chắc c̣n nhớ. Ngày xưa, trong buổi tế ở các đền, hai ông từ phụ lễ, tay bưng khay trầu rượu giơ cao từng bước chân và chờ tiếng trống “Bùm” mới hạ chân xuống đi một buớc. Chúng tôi cũng đi như thế, dù rằng trên chiếc ky đan bằng tre chỉ vỏn vẹn có một xuổng đất. Bọn cán bộ theo dơi tra vấn, chúng tôi chỉ trả lời ngắn gọn: - Đói quá, không làm nổi. Nh́n anh bạn cuốc đất, tên cán bộ nói mỉa: - Anh này “nao” động hay nhỉ, sáng anh giơ cuốc “nên”, chiều mới hạ cuốc xuống! Cho đến khi chúng phải chịu cho gia đ́nh ra thăm, nhưng cũng kể ơn - Khoan hồng “rân” đạo của cách mạng ”nà” để các anh có thêm bồi “rưỡng”, động viên các anh cải tạo tốt, sớm được tha. Một chiều nọ, sắp hết giờ lao động, tên cán bộ bước đến bên chúng tôi. Anh Duy Trác và tôi đang diễn tṛ ông từ vào đền. Nó hỏi: - Các anh có “nàm” cho xong chỉ tiêu không? Tôi trả lời: - Chúng tôi cố hết sức, nhưng làm đến đâu th́ làm thôi, chỉ tiêu cao quá, không làm nổi. Nó chỉ lườm rồi bỏ đi. Sau khi nhập trại, tôi được gọi lên nhà bếp. Nơi đây, có tên Minh, cán bộ giáo dục phụ trách thăm nuôi, và một tên h́nh sự là trật tự viên. Dưới nền đất chỏng chơ hai túi xách nhỏ. Tên cán bộ nh́n tôi soi mói rồi cất tiếng hỏi: - Hôm “lay” anh “nao” động thế “lào”? Tôi không rơ hậu ư, chỉ nói: - Anh em làm sao, tôi làm vậy. Nó chỉ vào hai túi xách: - Vợ anh “nên” thăm anh, “nẽ” ra trại phạt không cho thăm và nhận quà, v́ anh bướng bỉnh, ngoan cố, chống đối “nao” động, chống đối cán bộ. Nhưng “nượng” khoan hồng của cách mạng, cho phép anh nhận 3 “kinô” quà, c̣n gặp mặt th́ “nần” sau, khi “lào” anh chứng tỏ sự tiến bộ. Liếc qua hai túi quà, chứa đựng bao t́nh thương yêu và hy sinh của gia đ́nh, lại nghĩ đến công khó của vợ hiền lặn lội hàng trăm cây số ra thăm mà không được gặp. Uất hận dâng trào trong tim, tôi đứng thẳng nh́n chằm chằm vào mặt tên cán bộ không thèm nói một lời. Thấy không ổn và ngại phản ứng bất tử của tôi sẽ làm nó bẽ mặt, tên cán bộ ra lệnh cho trật tự khám xét túi quà và cho tôi mang về. Có hai thành phần trong phân trại E: tù chính trị và tù quân nhân chế độ cũ. Tù chính trị là số anh em bị bắt v́ tổ chức hoạt động chống đối sau 30-4-1975. Số này có những người thực t́nh đấu tranh, và có thực lực, đường lối, có những hoạt động cụ thể gây tiếng vang như nhóm Vinh sơn, phong trào nhân quyền, Fulro; ngoài ra cũng có những thành phần phức tạp gồm những người tổ chức ma để tống tiền, tống t́nh. Họ cũng tự xưng nào là chủ tịch, tổng bí thư, tư lệnh, toàn là giới chức chóp bu của hàng chục tổ chức hữu danh vô thực. Nhưng khi vào đây, được mang danh tù chính trị, đa số họ cũng ḥa ḿnh vào nếp sinh hoạt chung với anh em chúng tôi. Chỉ có một số nhỏ lén lút làm bậy. Tù quân nhân th́ cao nhất là cấp đại tá, xuống đến tận cấp binh nh́. Chúng tôi đă thực sự đoàn kết và giúp nhau giữ vững tinh thần đấu tranh qua bao lần bị khủng bố tàn nhẫn. Số anh em tinh thần cao nhất là những người bị tuyển lựa từ các trại tù Hàm Tân, các anh trong phong trào nổi dậy đêm Giáng sinh 1978 ở Suối Máu. Nhưng cũng không phải không có một số nhỏ những người được phân loại cải tạo tốt nhờ lao động hăng say và ngoan ngoăn chấp hành nội quy từ các trại khác đưa đến. Sở dĩ có sự pha trộn như thế, là để mỗi kỳ có dịp lễ, tha tù, sẽ có vài anh được thả ra, và bọn cán bộ sẽ có cơ hội rêu rao về “nượng” khoan hồng nhân đạo của đảng và nhà “lước”.”
Hoạt động chống đối trong tù cũng có lúc cao trào, lúc thoái trào. Càng bị khủng bố, anh em càng đoàn kết và tinh thần lên rất cao. Những lúc đó bọn ăng ten nín khe, không dám hó hé; ngay cả bọn cán bộ cũng không dám bước qua cổng để vào sân pḥng giam. Nhóm anh em trẻ như Nguyễn Tú Cường, Phạm Đức Nh́, Bùi Đạt Trung, Hoàng Trọng Thủy, Phạm Chí Thành th́ tổ chức ca hát các bài ca chiến đấu, chuyền tay các bản tin, các bài viết giáo dục chính trị. Nhóm trung niên như Nguyễn Chí Thiệp, Vũ Ánh, Trần Danh San, Tăng Ngọc Hiếu.... th́ động viên, cổ vũ truyền đạt những kinh nghiệm. Họ đă thực hiện một tờ báo chui trong trại giam để phổ biến tin tức. Việc này rất nguy hiểm, nhưng ban chỉ huy trại ḍ la măi mà không bắt được quả tang. Anh em chia nhau canh pḥng, thông tin, chia xẻ miếng ăn, một ḷng đoàn kết nhất trí. Trong những lúc cao trào như thế, chúng lùa vào xà lim hàng loạt những người chúng nghi ngờ và cho là nguy hiểm. Không đủ pḥng nhốt ở trại E, chúng đưa vào gửi nhốt ở các phân trại khác, và thời gian nhốt xà lim có khi lên tới hàng nửa năm, không hề đọc lệnh biệt giam. Lúc thoái trào là lúc bọn ăng ten làm việc đ́nh đám rộn ràng nhất; những tên như Dương Đ. M. (cựu Trung tá BĐQ), Cao H. V. (cựu Đại úy Bộ binh vùng 4), René Nguyễn V. H. (dân du thủ du thực), Quang què (Cựu Đại úy Dù) ra mặt công khai.
Trong trại, cứ vài ba tuần, bọn cán bộ bày tṛ khám xét tư trang. Mục đích là tịch thu những thứ đồ dùng mà gia đ́nh tiếp tế cho tù. Sống hàng chục năm xă hội chủ nghĩa ngoài miền bắc, đói khổ và thiếu thốn; thứ ǵ trong miền nam cũng làm cho bọn cán bộ thèm khát. Chiếc muỗng inox, cái cắt móng tay, cây bút máy... đều thuộc loại sản phẩm cao cấp mà chúng chưa hề biết tới. V́ thế mỗi lần khám đồ là chúng tha hồ vơ vét. Chúng moi móc các bao đồ ăn gửi theo đường bưu điện, ăn cắp đồ hộp, tôm khô, bột ngọt, thuốc lá đầu lọc. Có lần chúng lấy một hộp bơ margarine loại 1 gallon, ăn thử không hợp khẩu vị, bèn vứt bừa băi ra ven đường. Một lần trong năm 1981, chúng chuyển từ bưu điện Đồng Xuân về trại gần hai ngàn gói bưu phẩm. Chúng để miết trong kho để ăn cắp dần. Cho đến khi đọc tên phát quà, chỉ c̣n hơn hai trăm gói mà thức ăn bên trong đă mục rữa. Bọn cán bộ đói khát đến độ đáng thương hại. Lần đó, khi có tù trốn trại, hai tên được cử ra tỉnh lỵ Phú yên đi ŕnh ở các bến xe, chợ... Tôi thấy chúng sửa soạn lương thực đem theo gồm khoai ḿ khô, hai lon muối hột và mấy bó rau muống. Một tên giải thích: - Rau muống ban đêm đem phơi sương cho tươi để ăn được lâu. Ra ngoài đó thấy thanh niên đi ăn tiệm mà tủi thân. Chúng tôi chỉ dám bày ra ăn uống khi trời tối không để ai thấy. Tôi hỏi: - Thế cán bộ không lănh lương khô à? Anh ta đáp một cách chua chát: - Cứt khô th́ có!”
Phần 2: Người Tù, Chiếc Lon Gô, và Nhà Kỷ Luật
Sống trong chế độ Cộng Sản hàng chục năm ngoài miền Bắc trước năm 1975, người dân đă quên đi chiếc bàn ủi để ủi áo quần. Có lẽ sau khi giặt xong, vài người chỉ biết xếp áo quần lại rồi lót dưới gối cho thẳng. V́ thế chúng ta thường thấy những cán binh Cộng Sản khi vào Saigon, ăn mặc luộm thuộm, lùng thùng như những con rối. Măi cho đến những năm 78-79, có những anh em tù muốn lấy điểm, đă bày vẽ cho bọn cán bộ việc dùng bàn ủi. Văn minh miền Nam từ chiếc bàn ủi điện đă nhờ chế độ Cộng Sản, tụt xuống bàn ủi than mà chúng ta c̣n nhớ h́nh thù thô kệch với con gà trống trên đầu mũi để làm cái khoá mở ra đóng vào khi đổ than. Loại bàn ủi này đă biến mất những năm cuối thập niên 1950. Có c̣n chăng, hoạ hoằn là ở vùng nông thôn heo hút. Bọn cán bộ Cộng Sản th́ dĩ nhiên không dám nghĩ đến việc xa xí là sắm một cái bàn ủi than này. Lo chi, đă có bọn tù khốn kiếp bày mưu tịch thu vật dụng bằng nhôm của tù cải tạo để đúc bàn ủi xài tạm. Thế là thỉnh thoảng, trại tổ chức kiểm soát tư trang. Lấy cớ tù nhân nấu nướng làm mất trật tự nên ra lệnh tịch thu tất cả đồ dùng bằng kim loại gồm nồi niêu, soong chảo, lon hộp, chén bát… Tất cả các vật dụng tùy thân thiết yếu đó của toàn trại, may ra đúc được một hai cái bàn ủi. Sau đó một thời gian, chúng lại nêu ra lư do tù đă có tiến bộ, chúng lại cho phép gia đ́nh thăm nuôi gửi nồi niêu vào để đun nấu bồi dưỡng cơ thể. Cứ vài tháng, màn thăm nuôi tiếp tế soong nồi và khám xét, tịch thu này diễn ra một lần.
Đối với người tù, không ǵ quan yếu, thân thiết gắn bó bằng chiếc lon guigoz. Chẳng rơ khi hăng Nestlé thiết kế ra ch́ếc lon nhôm để đựng sữa bột cho trẻ em này, họ có tưởng tượng ra rằng, một ngày nào đó chiếc lon nhôm này lại quan yếu đến thế. Mỗi người tù thường tậu ra cho bản thân ít lắm là một chiếc lon guigoz (từ đây xin gọi là lon Gô). Người khá giả, có thể có cả chục chiếc lon để chứa thức ăn rất tiện lợi. Công dụng trước hết là để đựng nước uống khi đi lao động. Dù là nước suối, nước mưa hay nước giếng. Khi cần đun nấu, người tù có thể gửi ké bên bếp lửa của người nấu nước để đun chút cơm khô, nấu chút rau cỏ vừa hái trộm trên đường đi, hâm lại chút thức ăn do gia đ́nh mới tiếp tế. Dù không khéo tay như người thợ hàn, bất cứ người tù nào cũng có thể làm được một cái niềng và quai xách bằng cọng kẽm cho tiện lợi. Họ sẽ tạo cho ḿnh một cây dài bằng gỗ hay sắt có cái móc ở một đầu để “câu kéo”. Câu kéo là từ ngữ mô tả việc người tù đứng xúm xít quanh ḷ lửa nhà bếp đưa cái lon gô vào miệng ḷ để đun nấu. Việc này thường là bị cấm, nhưng tù có cả trăm cách để đánh du kích. Một số tù c̣n khéo tay, may một cái bọc bằng vải hay simili cuire có độn vải để bao quanh lon gô, nhằm giữ ấm cho thức ăn nước uống. Lon gô, v́ rất mỏng, và phải kỳ cọ nhiều hay do rỉ sét, nên bị ṛ rỉ. Người tù có thể dùng hạt cơm, hay nhỏ giọt bao nylon đang chảy để trám. Người khéo tay có thể cắt một khúc nhôm hay đồng để tán lại. Thời gian đó là khoảng cuối năm 1979, khi anh em chúng tôi từ các trại Hàm tân bị đưa ra trại A-20 Xuân Phước được chừng vài tháng. Tôi thuộc đội 13, nhà 1, phân trại E vừa mới xây xong với bốn dăy nhà gạch lợp ngói kiên cố. Trong trại, có nhiều nhân vật nổi tiếng như cụ Lê Sáng (Chưởng môn Việt Vơ Đạo), cụ Vơ Văn Hải (Chánh Văn pḥng cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm), anh em cựu Bộ trưởng Ngô Khắc Tĩnh và Ngô Khắc T́nh, Bộ trưởng Chiêu Hồi Hồ Văn Châm, Linh mục Nguyễn Quang Minh, Linh mục Nguyễn Văn Vàng, Kư giả Vũ Ánh[3], Luật sư Thẩm phán Trần Đức Lai, Nhà văn Duy Lam, Ca sĩ Duy Trác, Cựu Trung tá VC hồi chánh Huỳnh Cự, nhà thơ Phan Lạc Giang Đông, Luật sư Trần Danh San, cựu Phó tỉnh Phú Yên và từng là Phó quận Đồng Xuân Nguyễn Chí Thiệp[4] (ở tù ngay trên đất cai quản của ḿnh khi trước), và vô số những anh hùng bất khuất khác.
Tôi cũng có vài chiếc lon gô; trong đó một chiếc có bao bọc bằng giả da cắt trộm từ chiếc ghế nệm trong xe chiếc xe Peugeot c̣n tốt của tên trưởng trại lúc đi lao động gần garage của trại. Nhờ khéo tay, tôi làm nhiều vật dụng bằng giả da, như chiếc nón vành rộng, chiếc ví tay dành cho vợ (mà không biết thiên thu nào mới gặp lại). Lon gô của tôi giữ nước nóng rất lâu, v́ lớp bọc bên trong là một khúc vải mền dày cộm. Sáng hôm đó, tôi giả đau khai bệnh không ra ngoài lao động. Lúc các đội về th́ trời đă nhập nhoạng tối, v́ đă vào muà đông. Trong khi anh em lỉnh kỉnh ra vào thu dẹp chờ đi lănh phần ăn tối, th́ đột nhiên hai ba tên cán bộ trực trại và một bầy trật tự thi đua uà vào. - Tất cả ra ngoài sân tập họp, không được mang thứ ǵ theo. “khẩn chương, khẩn chương!” Tôi đang nằm trên “lầu thượng” (Trong nhà giam có hai tầng cho tù ngủ. Tầng trên chúng tôi gọi đùa là lầu thượng.) chưa kịp xuống th́ đă thấy bọn trật tự hùng hổ vào lục soát khắp nơi. Chúng t́m ra những chiếc nồi, chiếc lon quăng xuống nền nhà nghe loảng xoảng. Tôi quơ vội chiếc lon gô bọc da có chứa ít nước nóng vừa lănh từ người đun nước rồi thư thả leo xuống. Tên cán bộ trực trại tên Luật - một tên sadist- thấy vậy ra lệnh: - Anh kia, giao nộp chiếc “non” ngay. Tôi bước vội ra cửa, né tránh những bàn tay nham nhở của của bọn trật tự. Cán bộ Luật bước theo ra định giằng lấy chiếc lon. Tôi quay lại cố tỏ ra lịch sự: - Báo cáo cán bộ, hôm nay tôi bệnh, phải chườm nước sôi. V́ thế tôi xin giữ lại chiếc lon gô nước nóng này. - Anh Tuyến (tên trật tự gốc tù h́nh sự, tội hiếp dâm), thu cái “non” giùm tôi. Tôi nhất định giữ cho được chiếc lon. Tên Tuyến cố giằng nó. Tôi lần lữa ra đến sân trại. Biết không thể giữ được, tôi ném mạnh chiếc lon xuống sân, dùng chân giẫm lên cho bẹp dúm rồi cúi xuống lượm nó và quăng mạnh qua bên kia hàng rào trại. Làm xong việc này, tôi đứng thẳng, trừng mắt nh́n vào mặt tên trực trại Luật dơng dạc tuyên bố: - Các anh đă cướp đoạt tài sản cả miền Nam. Nay một chiếc lon goz cần thiết cuối cùng của người tù, các anh cũng không tha. Tôi không xài được, quyết không để cho các anh xài nó. Nói xong, tôi lẻn vào xếp hàng cùng anh em trong đội. Có lẽ trong đời làm công an gác tù, Luật chưa hề đụng phải một hành vi chống đối táo bạo bất ngờ ngoài sự tưởng tượng. V́ thế phải mất một phút sau, hắn mới có phản ứng. Khuôn mặt tên sadist tái đi, hắn nghiến răng trèo trẹo: - Anh kia, tên ǵ? Từ trong cửa miệng của hàng trăm người tù bị coi là cứng đầu nhất trong các trại tù miền Nam, những tiếng la hét bộc lộ sự uất ức dồn nén đă bao ngày: - Đồ ăn cướp! Đồ ăn cướp! Luật biết không nên gây căng thẳng trong hoàn cảnh này, v́ có thể xẩy ra biến cố bất lợi. Hắn xuống giọng ra lệnh cho bọn trật tự thu vén các thứ đă tịch thu vào hai cần xé, mang đi. Xong, hắn ra lệnh cho tôi bước khỏi hàng đi theo hắn. Luật dẫn tôi đến nhà bếp cạnh nhà kỷ luật bảo chờ ở đây. Lúc đó đă có sẵn bốn năm tên công an vơ trang. Bọn này sấn tới sắp sửa đánh tôi. Tôi lùi vào sát vách bếp nói lớn: - Cán bộ không được đánh tôi. Không được vi phạm chính sách. Bọn này đột nhiên ngừng lại, hậm hực buông lời đe doạ rồi bỏ đi. Lát sau, tên Luật và tên trật tự Quư đen (con lai Mỹ da đen, từng là binh sĩ Nhảy dù của ta) đưa tôi vào nhà biệt giam. Tôi đă quá quen thuộc việc bị cùm, nên khi nh́n thấy hàng cùm chân sắp dọc theo chân tường nhà kỷ luật, tôi nhắm ngay một chiếc cùm rộng nhất ḥng để cho cổ chân có thể cựa quậy chút đỉnh. Nhưng tên Quư đă nhanh tay chọn lấy hai chiếc cùm chật nhất. Chúng đẩy tôi vào căn thứ ba, bảo leo lên bệ, duỗi hai chân ra áp vào vách cửa. Quư đen ấn hai chiếc cùm vào hai cổ chân tôi. Cùm quá chật. Hắn cố nấn nấn đẩy cho miệng cùm qua được phần xương cổ chân, rồi nhét cả phần c̣n lại cho lọt hẳn vào cùm như người ta nhét cái bánh chưng vào khuôn gỗ trước khi gói chặt lại. Phần gân sau của cẳng chân tôi vẫn cứ ngoan cố không chịu ép qua hai cái lỗ cùm. V́ thế, khi tên Quư đẩy cây sắt 12 li từ một lỗ ở mép bệ xi măng qua lỗ cùm, tôi phải nén đau bóp hai gân lại. Nhưng cũng không tránh khỏi việc cây sắt cứa vào rách chân đau buốt tận trời xanh. Cần nói thêm là chúng dùng sắt vuông có bốn khiá rất bén, xoắn lại trước khi uốn thành chiếc cùm chân. V́ thế nhất cử nhất động sẽ làm cơn đau gia tăng gấp bội so với loại cùm bằng sắt tṛn. Thế là hai cẳng chân vừa bị kẹp cứng trong hai chiếc cùm chật, vừa bị gác lên cây sắt có khiá cỡ 10 li. Cả sức nặng phần cơ thể tựa trên hai bàn tiếp hậu đă ốm ḷi xương và trên cây sắt đó. V́ thế, cơn đau bị bó chật đang âm ỉ th́ cơn đau từ nhượng chân đă phát khởi do chỗ da bị rách và cây sắt tiếp xúc trực tiếp với gân bàn cổ chân.
Bị cùm thế này, người tù chỉ có hai vị thế: nằm hẳn ra hoặc nửa ngồi nửa nằm. Không thể ngồi hẳn lên, v́ hai bàn chân quá sát vách tường. Bị cùm ở Xuân Phước rồi, mới thấy trại Hàm Tân là thiên đường. Tại trại Z30C Hàm Tân, nhà kỷ luật có hai gian, mỗi gian có thể cùm 5, 6 người. Thanh sắt để xỏ cùm lớn, có đường kính khoảng hơn 2 inches, bóng mượt do nhiều bàn chân đă mài qua trên đó nhiều năm. Dĩ nhiên qua một ngày sau, th́ sức nặng của chân cũng sẽ gây đau đớn. Nhưng người tù biết dùng cái lon gô kê dưới bắp chân cho bớt đau (Ở Hàm Tân, cai tù cho đem lon gô vào nhà cùm). Trước mặt người tù là một khoảng tương đối rộng. Ngày có hai lần hai vắt cơm to bằng trái cam có rắc muối đậu phụng. Tôi đă nếm mùi cùm ở Hàm Tân hai lần, cũng tự cho rằng đi nghỉ mát, né được lao động cực nhọc. Ngược lại, ở Xuân Phước th́ coi như tầng chót địa ngục. Người tù khi vào nhà kỷ luật chỉ vỏn vẹn bộ pijama tù mỏng dính. Guốc dép, khăn, mũ… bỏ lại bên ngoài. Không mùng mền chiếu gối dù mùa hạ hay mùa đông. Mỗi buồng giam có hai bệ xi măng hai bên vừa đủ rộng cho hai người nằm. Cai tù kiếm cho mỗi tù nhân một cái hộp nhựa mỏng đă cắt phần trên dùng để chứa thức ăn, một nửa hộp khác chứa nước uống. Và thêm một nửa hộp loại b́nh nước mắm hai lít để đựng phân và nước tiểu. V́ là chiếc hộp bị cắt ra, nên miệng b́nh đựng chất thải này nó mềm nhũn và dễ bể mỗi khi đụng vào. May mắn là thời gian trong cùm, chỉ ăn phần ăn của chim với hai ba lát khoai ḿ và khoảng hai ba muỗng nước mỗi ngày; nên ngoại trừ ngày đầu, th́ những ngày sau đó chúng tôi chẳng có ǵ để bài tiết cả. Vả lại, với vị thế như vừa kể trên - hai chân bị khép cứng lại mà không ngồi được – th́ chẳng thể nào làm công việc bài tiết được. Tôi đă nhịn đi cầu đến 32 ngày mà chẳng thấy bị thôi thúc ǵ. Dăy nhà kỷ luật vừa mới xây xong trước khi chúng tôi đến. Mà chúng tôi lại được vinh dự khánh thành nó; v́ thế chúng tôi được thấm thía thế nào là cơn lạnh muà đông trên cái nền xi măng c̣n ẩm hơi nước. Qua một đêm vừa lạnh, vừa đói, vừa đau buốt như thế; hôm sau, tôi được gọi ra làm việc để bọn trực trại lập hồ sơ kết luận hợp thức hoá việc thi hành kỷ luật.
Phần 3: Những Ngày Cùm Biệt Giam
Khi nghe tiếng khoá lách cách bên ngoài, tôi cảm thấy nhẹ nhàng. Dù sắp phải đối phó với những màn ép cung mà một lời nói sơ suất có thể mang lại những hậu quả phiền toái; hoặc có thể xảy ra màn tra tấn đánh đập như từng xảy ra khi chúng tôi bị gán tội sách động đ̣i yêu sách hồi c̣n ở trại K5 Suối Máu. Tuy nhiên, công tâm mà nói, ở Xuân Phước hơn sáu năm, anh em tù nhân có thể bị khủng bố nghiêm trọng về tinh thần, nhưng cảnh tra tấn th́ không dă man bằng ở trại Kà Tum, hay các trại miền đồng bằng Cửu Long, nơi bọn du kích, địa phương Việt Cộng quản lư trong những năm đầu. Chúng tôi vẫn coi thường những màn hỏi cung của bọn công an v́ tŕnh độ học thức, lư luận chúng rất kém cỏi. Vấn đề là phải làm sao để không hớ hênh khai báo ǵ mà có thể liên lụy cho các bạn ḿnh hay để chúng chụp thêm tội. Dù có nhận tội hay không th́ thời gian bị cùm cũng chẳng thay đổi ǵ. Đơn giản là nếu không nhận tội, th́ chúng cho là ngoan cố; mà có nhận đại cho xong, th́ chúng nó đoán sẽ c̣n nhiều điều cần truy cứu thêm. Nên trong cả hai trường hợp, chúng sẽ biệt giam cho đến khi nào gần quỵ gục th́ mới thả ra.
V́ gần cuối năm, khí hậu tương đối dễ chịu. Nếu ở một hoàn cảnh nào khác, th́ đó sẽ là một ngày đẹp trời, êm ả. Ánh nắng mai dịu dàng và khoảng trời xanh trong. Anh em tù nhân đă xuất trại lao động. Chỉ có hai ba đội đang làm cỏ chung quanh hội trường. Đó là các đội tù nhân thuộc phân trại A (hai trại A và E liền nhau, không có hàng rào ngăn cách, chung nhau một hội trường). Các anh em đó là những người ra đi trên tàu Việt Nam Thương Tín hồi cuối tháng 4 năm 75, và đă bị bọn Việt gian sách động đ̣i trở về nước sau khi đến được đảo Guam. Họ được đón tiếp trọng thể tại bờ biển Nha Trang. Có ṿng hoa choàng cổ, có diễn văn chào mừng như đối với những người con yêu trở về với dân tộc. Nhưng ngay sau đó, từng đoàn xe buưt đưa thẳng họ vào Xuân Phước, lột sạch tư trang và đưa vào đây để họ trở thành những người tiền phong xây dựng những lán trại mà bây giờ là trại A-20 khét tiếng. Những người này vừa dân sự, vừa công chức, quân nhân các cấp, bị giữ từ 3 cho đến hơn 10 năm tùy theo lư lịch trước 1975. Tuy nhiên, họ được quy chế rộng răi hơn đám tù cải tạo chúng tôi. Họ làm các công việc tương đối nhẹ nhàng, ít bị quản chế.
Hội trường cũng khá rộng. Trừ mặt sau bít kín, ba mặt kia đều có nhiều cửa sổ thông thoáng. Có hai chiếc bàn kê trên sân khấu. Tôi ngồi đối diện với tên cán bộ Luật ở bàn bên trái. Một cán bộ “giáo dục” ngồi bàn bên phải đang chăm chú đọc hồ sơ mà tôi đoán là của chính tôi. Bên ngoài anh em Việt Nam Thương Tín cũng vừa làm việc vừa lén theo dơi chúng tôi. Bắt đầu thông thường là các câu hỏi: tên họ, cấp bậc, chức vụ và tội danh. Thời gian đầu mới vào trại, bọn Cộng Sản ép chúng tôi phải nhận là ngụy quân, ngụy quyền. Nhiều anh em né tránh những danh từ điếm nhục mà kẻ thù cố gán và khai ḿnh là “Sĩ Quan Chế Độ Cũ”. Sau này, bọn cán bộ mặc nhiên chấp nhận tội danh Sĩ Quan Chế Độ Cũ này. Hôm nay, th́ từ một động lực tiềm ần nào đó, tôi đột nhiên nổi cơn ương nghạnh: - Tôi không can tội ǵ cả! Tên Luật sững sờ, buông bút gằn giọng: - Anh nói không can tội, th́ sao chúng tôi phải giữ anh ở đây? - Đúng, tôi không can tội ǵ. - Anh cầm súng Mỹ chống lại cách mạng và nhân dân. Đảng và Nhà nước đă khoan dung tha tội chết, cho anh học tập cải tạo để thành người lương thiện mà anh lại chối à? Tôi cười khẩy: - Đối với tổ quốc và nhân dân, tôi không có tội ǵ cả. Năm 1975, chúng tôi lầm về các anh nên mới đi tŕnh diện cải tạo. Nhưng đă 5 năm nay, chúng tôi nhận thức rằng các anh từ miền Bắc vào xâm chiếm miền Nam chỉ đem lại cơ hàn, đói khổ, áp bức cho đồng bào. V́ vậy, nếu chúng tôi chiến đấu, là chiến đấu cho chính nghĩa. Luật ghi nguyên văn câu nói của tôi vào biên bản rồi chuyển qua cán bộ giáo dục (Tôi quên mất tên. Nhưng anh cán bộ này hoá ra là một người tốt, sau này đă giúp một anh trốn trại. Việc bị bể, cán bộ này lănh án 5 năm ở trại tù tỉnh Phú Khánh). Đối thoại với cán bộ giáo dục cũng nhẹ nhàng, tôi vẫn giữ nguyên luận điệu. V́ thế, cuối cùng tôi được đối diện với viên trưởng trại Lê Đồng Vũ. Với cặp mắt lừ đừ, gian ác trên khuôn mặt bèn bẹt của một thổ dân bán khai miền núi, Vũ nh́n tôi và bắt bẻ thế ngồi bắt chân chữ ngũ của tôi: - Anh ngồi “nại” nghiêm túc. - Nghiêm túc là thế nào? Năm nay ông mới là Thượng uư. Năm năm trước đây tôi đă là một Đại uư. Ngồi thế này là lịch sự lắm rồi. Biết đụng đầu với một anh liều mạng, cứng đầu cứng cổ, Vũ bắt đầu lải nhải những luận điệu cũ rích về chính sách “khoan hồng độ lượng”, về cuộc chiến “chống Mỹ anh hùng.” Tôi ngồi nghe một cách lơ đăng và vẫn giữ một câu trả lời mỗi khi Vũ hỏi tôi về tội danh. Sau cùng, không c̣n kiên nhẫn, Vũ đứng dậy và gầm lên: - Chống Cộng “nà” chính nghĩa!, Hừm, tao cho mày chết rỉ cùm trong nhà kỷ “nuật”. Không biết trời xui đất khiến ǵ mà tôi cũng đâm ra liều lĩnh. Tôi rán khạc một băi đàm, nhổ toẹt ngay trước mặt Vũ. Anh cán bộ giáo dục thấy t́nh h́nh quá nguy hiểm, đă kéo tay tôi lôi đi: - Anh Phúc, bớt nóng, bớt nóng. Đi, đi mau. Mai mốt ra làm việc với tôi. Anh em tù Việt Nam Thương Tín quanh đó hầu như ngưng tất cả công việc để theo dơi từng diễn tiến. V́ thế khi cán bộ giáo dục dẫn tôi đi qua, nhiều anh đă lén đưa ngón tay cái biểu lộ sự tán đồng.
Sau này, măi cho đến khi chúng tôi bị di chuyển vào phân trại B, tên Lê Đồng Vũ thường né tránh mỗi khi vào trại mà chạm mặt với tôi. Trong khi tôi cứ xấn tới, th́ Vũ t́m lối khác để đi. Với quyền uy tuyệt đối của môt trưởng trại, chúng muốn hành hạ ǵ người tù mà chẳng được. Nhưng rơ ràng là Lê Đồng Vũ e sợ bị làm nhục mất uy t́n trước các tù nhân trong trại. Theo nội quy trại, tù nhân khi gặp cán bộ trại tù phải dở nón, đứng cách 6 bước và hô “chào cán bộ”. Cũng theo 30 điều nội quy, tù nhân phải dỡ nón mỗi khi đi qua cổng trại. Sau này ở phân trại B, có một anh đội trưởng là Đặng P. L., người Huế, cựu Tiểu đoàn trưởng thuộc một sư đoàn BB ở vùng 2, c̣n đặt thêm lệ bắt chúng tôi phải đi qua cho hết hàng dừa bên ngoài cổng trại (cũng khoảng 50 mét nữa) mới được đội nón. Chúng tôi đặt cho anh này xú danh là ông Ba Mươi; v́ nhiều lần anh ta tuyên bố rất xanh rờn: ”Khi không có cán bộ th́ có tôi.” (ư muốn cho rằng ḿnh cũng uy quyền như cán bộ. Khiếp! Về anh này, c̣n nhiều chuyện vui lắm. Tôi đă làm bài thơ nhại Kiều “Đoạn Trường Siêu Thanh” để nói về hai anh ĐPL (đội trưởng) và Nguyễn TL (tổ trưởng)
Trăm năm trong cơi tù giam, Chữ đày chữ đoạ vốn là bạn thân Suốt ngày nồng nặc mùi phân, Một buồng giam nhỏ nhốt hơn trăm người. Trong pḥng hai gă đười ươi, P. L. anh cả, em là T. L. Độc như rắn, dữ như hùm Mỗi thằng một vẻ, chẳng thua thằng nào. L. xem người ngợm khác nào, Một con khỉ gió, ra vào lom khom. Loa mồm, giải mép c̣m ṛm Rắn ghen kém độc, sói hờn thua ranh. Một hai gian ác rành rành, Sánh ngang cán bộ, xú danh để đời. L. càng nịnh thế xu thời, So bề gian ác, chẳng đời nào thua. Hai thằng cứ thế làm vua, Trại tù làm gió làm mưa một thời. Mai sau tiếng xấu để đời. Vợ con dấu mặt, miệng người truyền mau. ...
Có lần, trong một cuộc họp đội, tôi đă lên tiếng góp ư cho ĐPL : - Anh L., tôi hỏi anh mấy câu này: (1) Giờ ăn, anh có ra ngoài nhà ăn cán bộ ăn với họ, hay anh cũng đem cái chén đến nhận cơm bên thúng cơm tù của chúng tôi ? (2) Khi anh ngủ, anh có ra ngoài nhà ban Chỉ Huy ngủ chung với cán bộ hay anh cũng nằm trên chiếc sàn gỗ nhám trong nhà này? (3) Khi anh đau ốm, ai săn sóc anh? Y sĩ cán bộ hay chính anh em chúng tôi sẽ lo lắng cho anh? Tôi đề nghị anh nên trở về thực tế, đừng cứ ở trên mây. Đó là lời chân t́nh tôi nhắc nhở anh. ĐPL giả lả trả lời : - Anh giáng tôi một cái búa chứ nhắc nhở ǵ ! - Biết là cái búa th́ nên coi chừng. Bị tôi giáng nhiều cái búa như thế, ĐPL vẫn chứng nào tật nấy. Tuy nhiên, tôi chưa ghi nhận ĐPL báo cáo anh em điều ǵ nghiêm trọng. Để tránh phải chào bọn cán, anh em chúng tôi có quy ước với nhau là không đội nón, cho dù mưa to gió lớn hay nắng lửa nứt da đầu. Không cần thiết th́ không nên xáp lại gần bọn cán. Lấy đủ cớ như đau mắt, nắng chói không nh́n rơ để biện minh cho việc không chào cán bộ. Sáu năm sau, vào năm 1985, khi tôi làm thủ tục ra tù ở ban chỉ huy trại, một tên cán bộ an ninh đă cúi nh́n tận mặt tôi và lắc đầu: - Anh ”lày nà” Đỗ Văn Phúc đây. Anh mà cũng được tha th́ cũng “nạ”! Cán bộ Trưởng trại uy quyền tối cao mà anh c̣n “nàm” nhục th́ hết “lước lói”. Tôi được đưa trở lại nhà kỷ luật. Trên đường đi, tôi cũng tự trách ḿnh đă quá nông nổi để có thể bị họa lớn. Nhưng rồi cũng tự an ủi v́ đă bao lần, tôi đều chịu đựng và vượt qua. V́ sắp đến giờ phát bữa ăn trưa, là bữa ăn duy nhất trong ngày của tù biệt giam, anh cán bộ này đă ra lệnh cho nhà bếp dọn cho tôi ngay pḥng quản lư bếp. Do các anh nhà bếp - cũng là anh em quân nhân - đă chiếu cố đến một người bạn đồng cảnh xấu số, tôi được ăn khá hơn cả phần người tù thường. Khi vào pḥng giam, lợi dụng sự dễ dăi của anh cán bộ giáo dục, tôi yêu cầu anh ta lấy cho tôi một chiếc cùm lớn hơn. Tuy nhiên, tôi vẫn không được thêm thứ ǵ khác. Lại một đêm lạnh lẽo và nhức nhối cùng mối lo chờ đợi sự trả thù của tên trưởng trại, mà chắc là rất thâm độc.
Hai Muỗng Cơm, Hai Muỗng Nước
Mấy ngày sau khi tôi bị cùm, trại kiếm đủ cớ để đưa vào biệt giam thêm khoảng chục anh. Chẳng bao lâu sau đó, các pḥng biệt giam chật ních người. V́ sắp đến lễ Giáng sinh, chúng lựa những người có thành tích đấu tranh cho vào giam trước đề pḥng chuyện không hay xảy ra. Thế là chúng tôi, bốn người nằm một pḥng, hai người trên một bệ chia nhau thanh sắt cùm. Chúng tôi bắt đầu gửi tín hiệu thăm hỏi nhau và tôi được biết bên ngoài cũng đang vô cùng căng thẳng. Nhất cử nhất động đều có ăng ten theo dơi và báo cáo. V́ thế các anh khuyên tôi nên ứng xử thật khéo léo để tránh bị gán thêm tội. Mỗi ngày trong xà lim, chúng cho ăn một lần vào khoảng xế trưa. Mỗi bữa ăn là hai lát khoai ḿ chan ngập trong nước muối thật mặn và chừng hai muỗng nước uống. Cơn khát hành hạ chúng tôi đến điên người. Đói, khát, lạnh (v́ đang là mùa đông) làm cho tôi kiệt sức rất nhanh. Chiếc cùm quá chật làm rách thịt ở nhượng chân, làm độc; tôi dùng nước muối thoa lên hàng ngày. Lâu dần, chân teo lại, có thể xoay sở được. Các anh nằm bên các xà lim cạnh bày ra ca hát, đọc thơ cho lên tinh thần. Cũng có lúc tôi nhận được tiếp tế do những anh gan ĺ nhất nhảy hàng rào biệt giam chuồi vào khe cửa những miếng đường tán, chút thuốc lào. Đây là công lao của Phạm Tuế, khoá đàn em của tôi và các bạn trẻ Ngưyễn Tú Cường[5], Phạm Đức Nh́... c̣n may mắn chưa bị “tó”. Chúng tôi giải quyết cơn khát bằng cách khi một người bị kêu ra làm việc, cố gắng uống thật nhiều nước và nhúng ướt áo quần, để khi về pḥng vắt ra cho anh em khác uống. Có khi chúng tôi phải uống nước tiểu, nhưng t́nh trạng thiếu nước làm cho nước tiểu cũng quánh lại và gắt vô cùng, tưởng như uống máu của chính ḿnh. Cơn lạnh của vùng núi rừng miền trung thật khủng khiếp. Sàn xi măng th́ ẩm, trên người chẳng có ǵ che. Suốt ngày đêm chỉ gắng ngồi thu người, ôm gối run cằm cặp. Tôi kiệt đến mức xuất tinh và tiểu tiện mà không kiểm soát được, cũng không cảm giác được. H́nh như ai ở xà lim lâu ngày cũng có thể trở thành nhà triết học. Nằm buồn, khó ngủ, thời gian th́ như dừng lại. Tâm trí bắt đầu làm việc. Trước hết là ôn chuyện quá khứ, bạn bè, yêu đương; những kỷ niệm vui buồn đời lính, những ngày tháng gian khổ hiểm nguy nhưng hào hùng. Hết chuyện để suy nghĩ, tôi bắt đầu nh́n cḥng chọc vào vách tường, cố h́nh dung ra những h́nh ảnh kỳ ảo như khi ta nh́n đám mây vân cẩu. Một con thằn lằn chậm chậm ḅ ra, chạy đuổi bắt những chú muỗi no máu. Thế là thằn lằn trở thành bạn đường để tôi trao gửi tâm sự. Trời ơi, ước chi có tập giấy và cây bút để tôi ghi lại cả trăm ngàn trang tư tưởng. Có lúc quay về nghĩ đến đấng tối cao, lúc th́ cầu nguyện, lúc th́ than trách. Tôi nhớ cựu đại tá Trung hoa Quốc dân đảng Lư Thành Cầu (năm đó đă gần 80) dạy tôi một câu: “ Na ở chuy, ẉ mẵn sơ kuo cha rẩn.” (dù bất cứ đâu, ta cũng là một người quốc gia), hoặc “Thien cung mỉ dậu dằn xinh, cầy tha mẫn sẳng cung ma.” (Trời không có mắt để cho chúng nó thành công sao?). Chúa trời ôi, nếu đây là con roi điện để Chúa trừng phạt dân Nam, th́ hoá ra bọn Cộng Sản này là tay sai của Chúa sao? Cũng có lúc nghĩ rằng Chúa thử thách chúng ta, và ngày mai đây sẽ đền bù xứng đáng cho những ai vượt cơn khổ ải. Tôi đă làm được hai câu thơ, nhặt cây đinh khắc lên vách nhà giam:
Đời có gian lao mới rạng danh hào kiệt, Tù không đày đọa sao rơ mặt anh hùng
Sau cùng, gần đến ngày tết, chúng lần lượt thả chúng tôi ra. Lại nói chuyện “khoan hồng cho ra ăn tết, phải thực tâm cải tạo tốt để được sớm tha về.” Tôi vịn hàng rào, lê bộ xương khô từng bước về pḥng giam, và thấy quang cảnh hoàn toàn khác lạ. Bước qua khung cửa pḥng, thấy một sự im lặng đáng sợ. Khác với trước đây, mỗi lần có người ra khỏi xà lim là anh em kéo đến săn sóc, kẻ điếu thuốc, nguời viên đường. Lần này chỉ thấy những đôi mắt lén lút trao gửi chút ái ngại, thương cảm. Tôi nh́n thấy một nhúm thuốc lào của ai đó để dưới tấm chăn. Đến chiều, khi anh em từ lao động về đông đủ, không có cảnh ồn ào như trước kia, mà ai nấy lặng lẽ về chỗ ḿnh, lănh phần ăn, buông màn nằm im thít. Tôi được chuyển qua đội tù chính trị và được thu xếp chỗ nằm bên người đội trưởng Trần Ph., bên trái là Nguyễn Văn Ch., tổ trưởng. Hai người này là thành phần tù gọi là chính trị nhưng thuộc loại được trại tin dùng. Thế là chim bị tách đàn, trói buộc trong cái lồng vô h́nh nhưng rất chặt chẽ.
Phần 4: Hung Thần Trong Trại Giam
Lê Đồng Vũ (Xú danh Lê Văn Nhừ)
Chuyện là như thế này. Tên phân trại trưởng là Lê Đồng Vũ, người miền núi Thanh Hoá có lẽ thuộc sắc dân Mường. Khuôn mặt y bèn bẹt vô tri vô giác, trên đó có đôi mắt lèm nhèm và cái miệng mỏng dính, thâm ś trông vô cùng nham hiểm. Chúng tôi đặt tên nó là Lê Văn Nhừ. Nó đúng thuộc con cháu ba đời của Chí Phèo, tượng trưng cho loại người hạ đẳng của xă hội, mang đầy mặc cảm thân phận đớn hèn, nên khi có chút quyền thế là ra tay sinh sát thậm tệ với đồng bào đồng loại. Tên này ít nói, vô học đến nỗi đọc lại lời trong trang sách cũng sai bét sai be. Có lần nó đọc đoạn viết về phát triển nhà ở bên Liên sô. thay v́: “năm nay, có 10000 căn hộ đủ tiện nghi được đưa vào sử dụng,” nó đọc thành “có 10000 cán bộ đầy đủ tiện nghi...” Cũng có lần, v́ không biết ngừng đúng nơi dấu chấm câu, nó đă đọc một đoạn văn như sau: “ Nhân dân ta, sau khi chiến thắng đế quốc Mỹ, đă trở thành biểu tượng anh hùng của nhân loại.” thành: “ nhân rân ta sau khi chiến thắng, đế quốc Mỹ đă trở thành biểu tượng anh hùng của nhân noại.” Thấy không trị nổi đám tù quân đội bướng bỉnh, Lê Đồng Vũ dùng cái ăn để lung lạc. Ban đầu, nó bày ra ban văn nghệ, hứa hẹn có cháo gà, có chè bồi dưỡng. Ngày đầu tiên, chúng gọi một số anh em có chút máu văn nghệ lên họp, nấu sẵn một nồi lỏng lỏng mấy cục bột khoai ḿ với đường mật gọi là chè. Ngoại trừ vài anh v́ thiếu quyết liệt đă tham gia để có được một tô chè đầy ; c̣n đa số đều bỏ về, tẩy chay văn nghệ, trong đó có ca sĩ Duy Trác và Tăng Ngọc Hiếu. Đội văn nghệ phải lấy chủ lực là đám tù h́nh sự và Việt Nam Thương tín.
Khi cán bộ Minh về làm quản giáo dội chúng tôi, anh chỉ là một thiếu niên mới lớn. Khuôn mặt non choẹt, đôi môi dày thâm đen và hàng răng vàng ố, Minh trông như một cậu bé quê cố làm ra vẻ người lớn. Chẳng bao giờ thấy Minh cười, dù chỉ là một cái mím môi. Minh rất khắt khe trong việc theo dơi lao động. Giọng nói Nghệ An đă khó nghe, lại phát ra từ cửa miệng của một anh cán bộ như Minh th́ càng thêm đáng ghét. Làm quản giáo chừng vài tháng, chúng tôi thấy Minh bị đưa ra làm vũ trang, đeo súng trường đi theo các đội tù. Nhưng không rơ do đâu, Minh lại được chuyển qua làm cán bộ an ninh. Có lẽ công việc này hợp với tác phong và bản tính của Minh. Tôi đă có dịp bị Minh thẩm vấn vài lần. Cung cách quan liêu, nhưng tri thức và khả năng biện bác hạn chế. Minh thường bị đuối lư mà kết cuộc th́ Minh dùng uy quyền của cai tù để áp chế. Tại phân trại B, chúng tôi lại gặp một tên khó ưa khác, đó là cán bộ Giáo dục Hùng. Tù nhân h́nh sự đặt cho anh ta tục danh là Hùng Chuột. V́ anh ta có cái mồm chu ra như cái mơm chuột. Anh này th́ rất hỗn láo và xấc xược. Khi gặp một người mang kính cận, Hùng bắt lột ra trước khi chào kính anh ta. Lần thứ hai mà vi phạm như thế, Hùng giật phăng cặp kiếng, quăng xuống đất và thô bạo đưa bàn chân nghiền nát hai tṛng kính. Đám h́nh sự rất sợ Hùng, v́ Hùng dễ dàng đưa tù vào nhà kỷ luật. Anh em tù sĩ quan th́ coi khinh Hùng ra mặt. Ngoài các tên hung thần trên, c̣n vài anh cũng khó khăn. Nhưng họ đều ở mức độ có thể chịu đựng được. V́ cũng như thời tiết khi nóng khi lạnh; những người này cũng lúc vui lúc buồn. Nếu biết khéo xử th́ cũng tạm an thân.
Chiên ghẻ Dương Đ. M. Khi anh em chúng tôi c̣n ở trong xà lim, phong trào chống đối lên rất cao. Lê văn Nhừ bèn đưa một con chiên ghẻ là cựu Trung tá Dương Đ. M. từ phân trại B ra làm trưởng ban Thi đua trật tự. Người này có một cuộc đời binh nghiệp đầy hào hùng, trên đầu từng đội ba màu nón: màu đỏ của Nhảy dù, màu xanh Lực lượng đặc biệt và màu nâu Biệt động quân. Người này từng làm quận trưởng Ninh hoà, từng làm Liên đoàn trưởng BĐQ. Người này trên cánh tay phải c̣n vết xâm h́nh cánh dù và ḍng chữ SKY WARRIOR. Nhưng người này đă sớm bán linh hồn cho quỷ đỏ. Hiểu rơ tâm lư và sinh hoạt của anh em, Dương Đ. M. thiết lập một hệ thống ḱm kẹp tinh vi, với những chủ đề thi đua, sắp xếp nội vụ. M. tổ chức một mạng lưới ăng ten, tuyển lựa bọn người yếu kém tinh thần sẵn sàng v́ miếng ăn và chút ưu đăi mà phản bội anh em. Có lần họp đội, nhà trưởng, một anh đội trưởng phàn nàn rằng bọn trật tự cư xử mất dạy với anh em tù cải tạo, Dương Đ. M. không ngại ngùng tuyên bố: - Đối với các anh, thế vẫn chưa đủ. Có thể nói Dương Đ. M. từng bước đă thành công trong việc đàn áp tù nhân. Anh em đành phải thu lại, chỉ âm thầm chịu đựng; v́ rơ ràng ngày tù th́ lê thê, không biết kéo dài bao nhiêu năm, không c̣n tia hy vọng ǵ ở sự hưng phục. C̣n giữ được tinh thần đấu tranh là v́ có chính nghĩa và ḷng căm hận, khinh bỉ đối với kẻ thù, chứ khó mong ngày lật ngược thế cờ. Cũng trong giai đoạn này, tin tức bùng nổ về việc Việt cộng bằng ḷng cho tù nhân cải tạo ra đi do Hoa kỳ tranh đấu và sẵn sàng đón nhận. Đó là niềm hy vọng độc nhất và cao nhất của chúng tôi. Nhưng đó cũng là điều làm cho nhiều anh v́ quá lạc quan mà gây ra những việc làm ngây thơ, để cho Việt cộng có dịp truy ra hết mầm mống chống đối. Dương Đ. M. đă làm cho không khí trại tù ngột ngạt như tôi vừa nói ở đoạn trên. Anh em không c̣n dám ngồi gần nhau trên hai người. Chẳng ai dám ăn chung với ai, chẳng ai tâm sự với ai. Buổi tối, ở góc pḥng chỗ cửa vào nhà cầu, có một ngọn đèn dầu và bóng dáng một tên ăng ten ngồi ŕnh ṃ. Trong giờ sinh hoạt, có đứa nh́n tận mồm anh em xem thử có hát thiệt hay chỉ mấp máy đôi môi. Một người bị đội trưởng nêu ra là loại xấu, th́ không ai dám bào chữa dùm. Chế độ ăn uống cũng được Dương Đ. M. sáng kiến ra làm năm thành phần: Loại tích cực 21 kí khoai, loại khá 18 kí, loại trung b́nh mười lăm kí, loại kém 12 kí, và tù biệt giam chỉ có 9 kí thôi. Thực tế đă tính luôn vỏ khoai, đất cát mà lại không cân đong đủ như thế. Chiếc bánh bột khoai ḿ gồm cả vỏ, tim, đất cát... nhỏ bằng bao thuốc lá là phần ăn cho loại trung b́nh. Người tích cực được thêm nửa cái, khá được thêm một phần tư; loại kém th́ cái bánh bị cắt đi một góc mà chúng tôi gọi đùa là cây súng lục. Chế độ ăn như thế phần nào có hiệu quả trong việc đàn áp sự chống đối. Có ai ở tù, chịu đói mới thấy miếng ăn nó quan trọng ra sao. Nó hành hạ cơ thể và tâm lư con người đến mức nào. Nó đày con người xuống tận cùng của ḷng tự trọng.
Ngoài những anh có gia đ́nh thăm nuôi đều hoặc gửi bưu kiện hàng tháng, đa số đều ở trong t́nh trạng dân con bà phước, nghĩa là sống nhờ vào chút thực phẩm của trại và ḷng thuơng của anh em khác. V́ thế, nhiều người đă lợi dụng miếng ăn để sai khiến anh em ḿnh, và cũng có kẻ ngày xưa uy quyền nay đă phải hạ ḿnh làm một thứ đầy tớ để đổi lấy miếng đường, chút cơm khô. T́nh trạng thiếu chất rau thật thậm tệ. Ngoài đồng, anh em trồng đủ loại rau; nào cải bẹ xanh, nào rau muống, củ cải... Nhưng trại chỉ cắt nấu khi rau đă già, cải đă lên ngồng, trổ hoa, chín hạt. Mỗi người đuợc phát ra vài cọng rau muống già. Ngày tết có chút củ cải dai như bao gạo chỉ xanh, nhai mỏi miệng rồi nhổ ra như các bà già ăn trầu nhả bă. Mỗi năm chúng tôi được ăn thịt ba lần, mỗi lần một chút xương có dính tí thịt, nước váng chút mỡ. Họ cắt da ḅ thành từng miếng như lát mứt dừa, nấu lên phát ra cho chúng tôi, ăn vào tưởng như đang nhai vỏ xe đạp. V́ thế, trong khi ra ngoài lao động, anh em phải t́m cách cải thiện. Bất cứ con vật ǵ nhúc nhích, dù nhỏ đến đâu cũng là tí chất tươi cho vào miệng sau khi nướng sơ qua trên than hồng. Có anh ăn cóc, nhái, ễnh ương; có anh ăn sâu đất, bọ. Thậm chí có anh lượm cả bộ ḷng chó mà bọn cán bộ vứt đi đă śnh thối về ăn. Hậu quả là ói tận mật xanh, tưởng đă đi luôn về bên kia thế giới. Trại qui định mỗi ngày, mỗi đội chỉ được hai người khai bệnh. Trong trại có một trạm thuốc với Bác sĩ Lịch (Sĩ quan Quân Y Sư đoàn 23BB) trông coi, nhưng chẳng có thuốc men ǵ ngoài một vườn cỏ cây mà họ gọi là thuốc dân tộc. Bọn cán bộ tịch thu thuốc tây do gia đ́nh gửi vào để xài cho chúng. Anh em ta bệnh ǵ cũng “giảm thống, xuyên tâm liên”. Sáu năm ở A-20, chúng tôi đă chứng kiến cảnh ra đi đau ḷng cuả bao nhiêu bè bạn chỉ v́ những chứng bệnh thông thường mà không có sự chăm sóc thuốc men. Những vị từng nổi tiếng như cụ Vơ Văn Hải (nguyên Chánh văn pḥng của cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm), Cụ Lê Kiên, bí danh Bùi Lượng (nguyên Tổng thư kư Tổng công đoàn Tự do), cụ Bùi Ngọc Phương (nhà tỉ phú từng ra tranh cử Tổng Thống), Những vị này tuổi trên 70, đáng ra phải được ở nhà giữa sự săn sóc của con cháu trong những ngày cuối đời. Việt cộng đă giam giữ họ và bắt phải lao động khổ sai mà không thuốc men khi đau ốm. Trước khi chết, con cháu bên ngoài chờ không được vào thăm, cụ Phương thèm một cục đường mà không ai dám cho, v́ cụ bị cách ly, theo dơi. Các cụ khi chết được bỏ vào trong một quan tài đóng bằng mấy miếng ván thô tháo gỡ từ các bệ nằm, đóng sơ sài vài chiếc đinh, hở đầu hở chân, chở trên chiếc xe ba gác lọc cọc trên con đường gập ghềnh đến một nấm mồ không bia gỗ, không thân nhân, bạn bè đưa tiễn, không chút khói nhang cho ấm ḷng lúc ra đi về bên thế giới bên kia. Năm 1980, chúng đưa ra xử bắn hai anh sau khi đă biệt giam hàng năm trời. Hai anh như đă chết thật từ lâu, được bạn tù d́u đi như hai bộ xương khô. Khi những viên đạn thù đâm vào cơ thể, dường như hai anh không có cảm giác ǵ; từ vết đạn chẳng ứa ra nổi một giọt máu. Thiếu Tá cảnh sát Quách V. Tr. cháu gọi chủ tịch nước Nguyễn Hữu Thọ bằng cậu ruột, dù thuộc thành phần ngoan ngoăn trong tù, chết v́ áp huyết cao. Gia đ́nh ra thăm sau đó hai ngày cũng chẳng được thông báo. Họ chỉ biết được nhờ sự linh cảm khi trên đường về đi qua nơi chôn cất, thấy ngôi mồ mới đắp và trong tâm linh rộn lên tiếng thôi thúc huyền bí nào đó. Phân trại B, nơi tôi được chuyển vào cuối năm 1982 cho đến ngày về 1985, có một số quư vị tu sĩ Công giáo, các chức sắc Cao đài, có Thiếu tướng Lê Văn Tất, có nhà báo Nguyễn Tú. Cụ Tú năm đó đă hơn 60 tuổi, râu tóc bạc phơ, nhưng tinh thần vẫn c̣n minh mẫn. Cụ là nhà báo nổi tiếng thời trước 1975. Có điều kiện di tản mà cụ từ chối không đi, để ở lại Việt Nam đơn thân độc mă. Đi ở tù không có gia đ́nh săn sóc. Dù không ai thăm nuôi trong cả chục năm tù, cụ vẫn giàu nghị lực chống chỏi cơn đói thèm và giữ ǵn tư cách cao quư. Cộng Sản bắt cụ đi lao động khổ sai, nhưng cụ cứ khai bệnh nằm ĺ ở nhà. Sau cùng chúng đưa cụ ra trước toàn trại kiểm điểm. Cụ đă đứng lên nhận lỗi như sau: - Tôi thực có tội, đă già đến sáu, bảy mươi tuổi đầu mà không biết lao động là vinh quang, không chịu đi lao động khổ sai.. [1] Phạm Trần Anh, 20 năm tù, hiện ở California [2] Có lẽ thời gian Thượng Tọa Thiện Minh đến trại, chỉ c̣n ba phân trại thay v́ 5 như trước kia. [3] Vũ Ánh, từng là Chủ bút báo Người Việt ở California. [4] Nguyễn Chí Thiệp, hiện ở Houston, tác giả cuốn Trại Kiên Giam. [5] Phạm Tú Cường hiện ở Atlanta, Georgia; Phạm Đức Nh́ ở Houston Cụ Nguyễn Tú vừa qua đời tại Virginia đầu tháng 7 năm 2010.
|
|||
|
|
||||